NAIOxBIa

thiết kế website

cách chữa viêm họng mãn tính

Đăng lúc: Thứ năm - 21/02/2013 09:16 - Người đăng bài viết: dinhhoach
cách chữa viêm họng mãn tính

cách chữa viêm họng mãn tính

Cách chữa viêm họng mãn tính cho những người bị viêm họng mãn tính. bị viêm họng lâu dài khó khỏi. đặc biệt khi bị thay đổi thời tiết có gió

Theo Ðông y, viêm họng thuộc phạm vi chứng tý, gọi là hầu tý. Viêm họng có hai thể cấp tính và mạn tính. Viêm họng cấp tính nguyên nhân do ngoại cảm phong hàn kết hợp đàm nhiệt bên trong cơ thể mà gây bệnh; viêm họng mạn tính do đàm nhiệt lâu ngày tích tụ làm tổn thương phế âm mà gây bệnh. Sau đây là một số bài thuốc chữa bệnh viêm họng theo từng thể bệnh.

 

1

 

Bạc hà.

 

Viêm họng cấp tính: Người bệnh thấy đau rát trong cổ họng, niêm mạc họng rất đỏ, sưng nề, ho từng cơn, có đờm nhầy, lúc đầu trắng, sau đặc có màu vàng. Người bệnh có thể sốt, nhức đầu, mệt mỏi. Phương pháp chữa: sơ phong, thanh nhiệt, hóa đàm. Có thể dùng một trong các bài thuốc:

 

Bài 1: kinh giới 16g, bạc hà 8g, kim ngân 12g, cỏ nhọ nồi 8g, huyền sâm 12g, xạ can 4g, sinh địa 12g, tang bạch bì 8g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần

 

Bài 2: kinh giới 12g, bạc hà 6g, kim ngân 20g, cát cánh 4g, liên kiều 12g, cam thảo 4g, ngưu bàng tử 12g, sinh địa 12g, cương tàm 12g, huyền sâm 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần.

 

Viêm họng mạn tính: Người bệnh có cảm giác vướng víu, ngứa rát thường xuyên trong họng; ho và khạc đờm quánh dính hoặc trắng nhầy (nhất là sáng sớm, khi ngủ dậy). Nhiều người bệnh do ngứa họng nên hay khậm khạc, gặng hắng. Niêm mạc họng có những điểm sung huyết màu đỏ nhạt, rải rác có những hạt lympho màu trắng (viêm họng hạt). Khi sức đề kháng của cơ thể bị giảm sút (do nhiễm virut, làm việc căng thẳng, thay đổi thời tiết), bệnh có thể nặng lên thành một đợt viêm họng cấp. Phương pháp chữa: dưỡng âm thanh nhiệt, hóa đàm. Có thể dùng một trong các bài thuốc sau:

 

Bài 1: sinh địa 16g, xạ can 6g, huyền sâm 16g, kê huyết đằng 12g, mạch môn 12g, thạch hộc 12g, tang bạch bì 12g, bạch cương tàm 8g, cam thảo nam 2g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần.

 

Bài 2: sa sâm 16g, thiên hoa phấn 6g, hoàng cầm 12g, cát cánh 4g, tang bạch bì 12g, cam thảo 4g.

 

Nếu cổ họng có nhiều hạt lympho gia xạ can 8g. Họng khô rát gia thạch hộc 16g, huyền sâm 12g. Nếu đờm quánh dính, khó khạc ra được gia qua lâu 8g, bối mẫu 6g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần.

 

Để phòng tránh viêm họng, hằng ngày cần:

 

- Súc họng bằng nước muối ấm mỗi tối trước khi đi ngủ, sau khi đánh răng để sát khuẩn họng và miệng.

 

- Ăn các thực phẩm thanh đạm, dễ tiêu hoá, cùng các thực phẩm chứa nhiều nước, mềm, có tác dụng thanh nhiệt. Nên ăn nhiều rau quả có chứa vitamin C và các thực phẩm giàu collagen và elastin như móng lợn, sữa, các loại đậu, gan động vật, thịt nạc…

 

Uống nhiều nước, không nên uống nước chè quá đặc, hạn chế các thực phẩm gây kích thích như gừng, tỏi, ớt…

 

- Không hút thuốc, uống rượu.

 

- Thường xuyên mở cửa để không khí lưu thông.

 

- Không nên uống nước đá, đồ uống lạnh, tắm nước lạnh, ở trong phòng điều hòa nhiệt độ thấp vì nóng lạnh đột ngột dễ gây viêm họng đỏ cấp.

 

 

 

Cây rẻ quạt chữa viêm họng mãn tính

 

 

1

 

 

Cây rẻ quạt thường được trồng làm cảnh hoặc làm thuốc khắp nơi ở nước ta, có tên khoa học là Belamcanda sinensis (L) DC, là một loài cây bụi thân cỏ, có thân rễ dài, mọc bò sát đất, thân cao khoảng 0,5m.

 

Lá cây mọc thẳng xếp hai hàng trên một mặt phẳng giống như “cái quạt”, hoa có màu vàng cam có đốm đỏ. Quả nang có sọc ngang, hạt màu xanh đen, hình cầu, sáng bóng.

 

Theo đông y, vị thuốc “xạ can” là thân rễ của cây rẻ quạt thường đào vào mùa xuân hoặc mùa thu; cắt bỏ rễ con, phơi hay sấy khô, khi dùng, ngâm nước gạo một hai ngày cho mềm; thái mỏng phơi hay sấy khô mà dùng dần. Xạ can là loại thuốc “thanh nhiệt giải độc” có vị đắng, tính hàn, hơi độc, vào hai kinh Túc quyết âm Can và Thủ thái âm Phế. Có tác dụng thanh hỏa, giải độc, tán huyết, long đờm, đau họng, ho đờm; dùng chữa yết hầu sưng đau, đờm nghẽn ở cổ họng. Ngày dùng 3-6g dưới dạng thuốc sắc. Hoặc giã củ tươi 10-20g với vài hạt muối, vắt lấy nước, ngậm nuốt dần; bã đắp ở ngoài. Xạ can hơi có độc nên người có tì vị hư hàn, trẻ em dưới 7 tuổi, phụ nữ có thai không được dùng. Dưới đây là một số bài thuốc của vị xạ can:

 

- Chữa viêm họng mạn tính, viêm họng hạt: Lấy một củ rẻ quạt to cỡ ngón chân cái rửa sạch, nướng chín (nếu không nướng chín sẽ gây bỏng họng), giã nhỏ với khoảng 10g muối, sau đó cho vào lọ nút kín. Hàng ngày lấy ra ngậm 3-5 lần; liên tục 3-5 ngày; có thể nhai nuốt cả bã và nước.

 

-Chữa viêm họng cấp: Xạ can (8-10g), sắc nước, chia thành nhiều lần uống trong ngày; khi uống có thể cho thêm đường hoặc mật ong vào cho dễ uống; đồng thời giã củ hoặc lá đáp vào chỗ đau trên cổ.

 

-Chữa viêm họng: Xạ can (4 g), kinh giới (16 g), kim ngân, huyền sâm, sinh địa mỗi vị (12 g); bạc hà, cỏ nhọ nồi, tang bạch bì mỗi vị (8 g). Sắc uống ngày một thang.

 

-Chữa viêm họng, ho đờm: Xạ can (6 g), sâm đại hành (15 g), mạch môn (15 g), cát cánh (6 g). Sắc uống ngày một thang.

 

-Chữa viêm amiđan cấp tính: Xạ can (6 g); kim ngân hoa, cỏ nhọ nồi, bồ công anh, mỗi vị (16 g), huyền sâm, sinh địa, sơn đậu căn mỗi vị (12) g; bạc hà, ngưu bàng tử mỗi vị (8 g); cát cánh (6 g). Sắc uống ngày một thang.

 

-Chữa các triệu chứng báng, bụng to nước óc ách, da đen xạm: Xạ can tươi, giã nhỏ, vắt lấy nước uống, hễ thấy lợi tiểu tiện thì thôi.

 

-Trị ho hen, ho do lạnh: Xạ can (10 g), bán hạ (10 g), tử uyển (10 g), khoản đông hoa (10 g), đại táo (10 g), sinh khương (10 g), ma hoàng (7 g), ngũ vị tử (3 g), tế tân (3 g). Sắc nước uống.

 

Sử dụng kháng sinh, đốt hạt, cắt amiđan ... đều chỉ là những biện pháp "chữa ngọn", thường không thể mang lại hiệu quả lâu dài, mỗi khi cơ thể suy yếu hoặc thời tiết biến động mạnh bệnh lại hay tái phát.

 

Kinh nghiệm thực tế cho thấy, để phòng trị VHMT, ngoài việc chú ý rèn luyện thân thể, làm việc nghỉ ngơi có điều độ, để nâng cao sức chống bệnh của cơ thể, sử dụng Đông dược cũng là một biện pháp có thể mang lại hiệu quả rất tốt.

 

Những người bị VHMT, thường có chung một số triệu chứng: Họng khô, ngứa, nóng rát, cảm thấy hơi đau hoặc nuốt đau, ho khan từng cơn, khạc ra đờm nhớt quánh, cảm thấy như có dị vật (vật lạ) nghẽn ở trong họng, gây vướng, nghẹn - phải khạc nhổ liên tục.

 

Các triệu chứng trên thường biểu hiện rõ hơn vào buổi sáng, lúc mới thức dậy, nhưng thường không kèm theo sốt hoặc biểu hiện rối loạn toàn thân, trừ trường hợp bị bội nhiễm vi trùng hoặc virus.

 

Trong Đông y, VHMT thuộc phạm vi của chứng "mạn hầu tý" (mạn = lâu ngày, "hầu tý" = cổ họng bị nghẽn tắc).

 

Theo Đông y, nguyên nhân dẫn tới "mạn hầu tý" chủ yếu do "Phế thận âm hư" (phần âm của 2 tạng phế, thận bị suy giảm), "Tỳ vị hư nhược" (chức năng tiêu hóa, hấp thụ bị suy yếu), hoặc "Thận dương hư suy" (phần dương của tạng thận, tức "mệnh môn hỏa", nguồn năng lượng cơ bản của cơ thể bị thiếu hụt).

 

1

 

Mạch môn

 

Để chữa trị tận gốc và tránh bệnh tái phát, vấn đề cốt lõi là "phù chính dĩ cố bản". Nghĩa là tăng cường sức đề kháng (chính khí), nhằm củng cố sức khỏe toàn thân (cố bản).

 

Cụ thể: Nếu là "Phế thận âm hư", thì cần sử dụng các vị thuốc có tác dụng "tư bổ phế thận" và "dưỡng âm thanh nhiệt".

 

Nếu là "Tỳ vị hư nhược", cần dùng thuốc "bổ trung ích khí" và "thăng dương" (tăng cường chức năng tiêu hóa và đưa khí thanh dương lên phần trên cơ thể); Còn "Thận dương bất túc", cần dùng thuốc "ôn thận phù dương".

 

Khi Âm dương, Khí huyết và chức năng của tạng phủ đã điều hòa trở lại, thì yết hầu sẽ thông sướng (không còn nghẽn tắc) và những chứng trạng do "hầu tý" gây nên cũng sẽ giảm dần.

 

Ngoài ra, cần xác dịnh "mạn hầu tý" - VHMT là chứng bệnh mạn tính, kéo dài lâu ngày, phải kiên trì trị liệu mới có thể thu được kết quả mong muốn.

 

Biện chứng thi trị

 

Để chữa trị một cách có bài bản, đúng theo nguyên tắc “Biện chứng thi trị” của Đông y, nói chung người bệnh cần tìm đến Phòng khám Đông y, để được các thầy thuốc chẩn bệnh và kê ra đơn thuốc phù hợp nhất với bệnh tình và đặc điểm thể chất của mình.

 

Tuy nhiên, cũng có thể căn cứ vào các triệu chứng biểu hiện cụ thể, để nhận biết thể bệnh, mà chọn dùng một trong số các bài thuốc cơ bản, tương ứng với từng thể bệnh như sau:

 

Dưỡng âm thanh phế thang

 

- Thành phần: Sinh địa 16g, huyền sâm 12g, mạch môn đông 10g, đan bì 8g, bạch thược 8g, bối mẫu 8g, cam thảo 6g, bạc hà 6g (cho vào sau). Sắc 2 nước, chia ra uống trong ngày.

 

- Tác dụng: Dưỡng âm (nuôi dưỡng phần âm), thanh phế (mát tạng phế) và lợi hầu (khai thông họng, đường hô hấp trên). Dùng chữa "mạn hầu tý" - VHMT thể "Phế thận âm hư". Với những chứng trạng chính:

 

Miệng khô nhưng uống ít nước; họng ngứa, nóng, nhấm nhói đau. Niêm mạc họng hơi sưng hoặc sần sùi, màu đỏ thẫm; trường hợp nặng các nang lymphô qúa phát thành những dải sùi đỏ, chạy dọc theo hai trụ sau của amiđan.

 

Có thể kèm theo những chứng trạng như ho khan ít đờm, buổi chiều gò má ửng đỏ hoặc lòng bàn chân bàn tay bốc nóng, mất ngủ, mộng nhiều, mắt hoa, tai ù, lưng mỏi, gối yếu, chất lưỡi đỏ khô, mạch nhỏ, nhanh.

 

1

 

Kha tử

 

Kiện tỳ ích khí thang

 

- Thành phần: Hoàng kỳ 24g, đẳng sâm 15g, bạch truật 10g, đương quy 10g, cam thảo (nướng) 6g, trần bì 9g, thăng ma 6g, sài hồ 6g, cát cánh 10g. Sắc 2-3 nước, chia ra uống trong ngày.

 

- Tác dụng: Bổ trung ích khí, thăng thanh lợi hầu. Dùng chữa "mạn hầu tý" - VHMT thể "Tỳ vị hư nhược". Với những chứng trạng chính:

 

Họng khô, ngứa, có cảm giác dị vật vướng ở bên trong. Niêm mạc hơi sưng, tấy đỏ, nang lymphô ở thành sau họng sùi dầy.

 

Kèm theo những chứng trạng toàn thân như mặt vàng sạm, người mệt mỏi, hơi thở yếu, kém ăn, bụng đầy trướng, đại tiện lỏng hoặc táo, chất lưỡi nhạt hoặc có vết răng, rêu lưỡi mỏng, mạch hoãn nhược (chậm yếu).

 

Ôn thận thang

 

- Thành phần: Thục địa 24g, sơn thù du 12g, sơn dược 12g, trạch tả 9g, đan bì 9g, phục linh 9g, quế chi 3g, phụ tử 3g. Sắc 3 nước, chia ra uống trong ngày. Trước khi nấu nước đầu, sắc phụ tử trước ít nhất 1 giờ, sau đó cho các vị thuốc còn lại vào cùng sắc.

 

- Tác dụng: Ôn bổ thận dương. Dùng chữa "mạn hầu tý" - VHMT thể "Thận dương hư suy". Với những chứng trạng chính:

 

Họng khô nhưng không thích uống nước, họng hơi đau, có cảm giác dị vật vướng ở bên trong, niêm mạc họng xơ hóa, khô mỏng và teo lại.

 

Kèm theo những chứng trạng toàn thân như sắc mặt nhợt, tai ù, mắt hoa, lưng mỏi gối yếu, chân tay lạnh, chịu lạnh kém; chất lưỡi nhợt, rìa lưỡi có vết răng, rêu lưỡi trắng ẩm, mạch trầm tế nhược (chìm, nhỏ, yếu).

 

Tất cả 3 bài thuốc trên đều sử dụng theo từng liệu trình: Uống liên tục 7-10 ngày, nghỉ 3 ngày, lại uống tiếp đến khi khỏi bệnh.

 

1

 

Núc nác

 

Nghiệm phương

 

Ngoài ra, còn có thể sử dụng thử một số “nghiệm phương” – bài thuốc một số người đã sử dụng có kết quả tốt:

 

Dùng mộc hồ điệp:

 

“Mộc hồ điệp” là hạt cây núc nác (Oroxylum indicum (L.) Vent ); loài cây mọc hoang khắp nước ta. Vị thuốc có tên mộc hồ điệp (mộc là gỗ, cây; hồ điệp là con bướm) vì hạt trông giống như con bướm bằng gỗ.

 

Muốn thu hoạch hạt, đợi tới cuối thu sang đông, hái lấy quả chín, phơi khô, mổ lấy hạt rồi lại phơi khô nữa để dành mà dùng dần.

 

Theo Đông y, Mộc hồ điệp vị hơi đắng, ngọt, tính mát. Có tác dụng thanh phế tiêu viêm, lợi yết hầu, sơ can hòa vị.

 

Kinh nghiệm thực tế cho thấy, sử dụng chữa những trường hợp viêm họng mạn tính, gây ho có đờm, họng đau, khản tiếng, có tác dụng rất tốt. Cách dùng cụ thể:

 

(1) Mộc hồ điệp 10g, bạc hà 3g, huyền sâm 10g, mạch đông 10g, mật ong 20g. Các vị thuốc thêm nước đun sôi nhỏ lửa 15 phút, chắt lấy nước, hòa mật ong vào, đun sôi lại là được. Chia ra nhiều lần uống, uống ấm.

 

(2) Mộc hồ điệp 6g, đông qua nhân (hạt bí đao) 10g, thêm chút đường trắng, sắc nước uống. Chữa chữa viêm họng mạn kèm theo mất tiếng, có tác dụng rất tốt.

 

Dùng Kha tử:

 

Kha tử là qủa chín của cây kha tử, còn gọi là cây “chiêu liêu” (Terminalia chebula Retz..), loài cây mọc hoang nhiều nơi ở miền Nam nước ta.

 

Theo Đông y, Kha tử có vị đắng, chua, chát, tính bình. Có tác dụng sáp trường chỉ tả, liễm phế lợi hầu. Dùng chữa viêm họng mạn có tác dụng tốt.

 

Dân gian còn lưu truyền kinh nghiệm: Lấy thịt qủa kha tử giã dập, rồi ngậm, để chữa đau cổ họng, ho, mất tiếng, hiệu quả rất tốt.

 

Thời trước, những người hát rong thường dùng thịt qủa kha tử, ngào với mật ong và ô mai, ngậm cho trong tiếng và tránh được khô cổ.

 

Kinh nghiệm này hiện nay vẫn được một số ca sĩ áp dụng. Có thể sử dụng chữa viêm họng mạn theo cách sau:

 

(1) Dùng kha tử 10g, đẳng sâm 20g, gạo tẻ 30g (sao cháy vàng) 30g, thêm 4 bát nước, nấu còn 1 bát, uống thay trà trong ngày.

 

(2) Dùng kha tử 5g, cát cánh 3g, cam thảo 5g; Thêm 200ml nước, sắc còn 100ml; Chia 2 lần uống trong ngày, vào sáng sớm và chiều tối.


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Commet facebook

global block category